Cân bằng Ammonia trong ao nuôi tôm sú - Công ty TNHH MTV TM SX BÁCH KHOA | Hóa chất Bách Khoa
Đang tải dữ liệu

Search
Generic filters
Exact matches only
Filter by Custom Post Type
Danh mục hóa chất

Cân bằng Ammonia trong ao nuôi tôm sú

tr12t Hiện nay, nghề nuôi tôm sú đã và đang là thế mạnh mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người dân các tỉnh ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Nghề nuôi tôm đã tiến đến trình độ thâm canh hoá ngày càng cao, do đó, việc quản lý chất lượng nước trong môi trường ao nuôi ngày càng khó khăn, đặc biệt là sự phát sinh tính độc ammonia (NH3) trong môi trường ao nuôi.

Hiện nay, nghề nuôi tôm sú đã và đang là thế mạnh mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người dân các tỉnh ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Nghề nuôi tôm đã tiến đến trình độ thâm canh hoá ngày càng cao, do đó, việc quản lý chất lượng nước trong môi trường ao nuôi ngày càng khó khăn, đặc biệt là sự phát sinh tính độc ammonia (NH3) trong môi trường ao nuôi.

NH3 là dạng khí độc đối với tôm cá, được hình thành từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ như thức ăn dư thừa, phân bón, xác phiêu sinh động thực vật, chất bài tiết của tôm… tích tụ trong ao nuôi, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sức khỏe của vật nuôi như: Ức chế sự sinh trưởng bình thường của tôm nuôi; Giảm khả năng chống bệnh; Gia tăng tính mẫn cảm của tôm đối với điều kiện không thuận lợi của môi trường như thiếu oxy, sự dao động của nhiệt độ, pH… Từ đó làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, năng suất nuôi cũng như hiệu quả kinh tế, chi phí đầu tư cao.

Có hai phương pháp hiệu quả để làm giảm tác hại của ammonia là: giảm pH và thay nước cho ao nuôi, quản lý ao nuôi.

* Điều chỉnh sự biến động ammonia bằng cách giảm độ pH trong nước

Thức ăn dư trong ao giàu chất dinh dưỡng, phiêu sinh thực vật phát triển mạnh làm cho pH dao động mạnh trong ngày và tăng cao. pH của nước tăng khi thực vật hấp thu khí CO2 trong nước cho quá trình quang hợp. Mức độ tăng pH của nước phụ thuộc vào “tính đệm” của nước, tức là phụ thuộc vào độ kiềm. Độ kiềm càng thấp thì pH càng tăng cao và ngược lại. Để làm giảm pH ở trường hợp này, người ta có thể sử dụng phèn nhôm. Phèn nhôm đơn Al2(SO4)3.14H2O khi hòa tan vào nước sẽ bị thủy phân: Al2(SO3)4 + 6H2O = 2Al(OH)3 + H+. Sử dụng phèn nhôm có thể giảm ngay pH của nước nhưng không làm ảnh hưởng tới điều kiện môi trường, chỉ làm cho nước ao nuôi trong hơn chút ít.

Một cách khác để hạn chế pH tăng là phải diệt cỏ dại và hạn chế tảo phát triển. pH tăng là do quá trình quang hợp của tảo, giảm mật độ tảo sẽ hạ thấp pH của nước. Sử dụng chất diệt tảo Clarosan với liều lượng 0,02mg/l theo chu kỳ 2 tuần/lần sẽ hạ thấp pH xuống từ 0,5 đến 1,0 đơn vị sau đó vài giờ. Khi đó nồng độ oxy trong nước cũng giảm theo nhưng Clarosan nồng độ thấp không độc đối với tôm. Có thể sử dụng các chất diệt tảo khác, tuy vậy cần hết sức thận trọng để tránh làm cạn kiệt oxy trong nước và gây độc hại trực tiếp cho thủy động vật.

Ngoài ra, có thể sử dụng thạch cao thô (CaSO4) để tăng hàm lượng canxi và độ cứng của nước làm cho pH tăng chậm khi quá trình quang hợp xảy ra mạnh. Sự có mặt của canxi cũng làm giảm lượng photpho trong nước, kìm hãm tảo phát triển, tức là hãm pH của môi trường nước.

Ngoài phương pháp gián tiếp giảm NH3 bằng cách giảm pH, người ta còn có thể sử dụng phương pháp giảm NH3 trực tiếp như:

– Phương pháp xử lý ammonia bằng zeolit (là loại alumosilicat tinh thể tồn tại trong tự nhiên và sản phẩm nhân tạo): Trao đổi ion xảy ra như sau: Na – zeolit + NH4 = Eolit – NH4 + Na+. Na+ ở trong các hốc của zeolit trao đổi với ion NH4+ trong nước và kết quả là NH4+ nhập vào zeolit và Na+ thâm nhập vào nước từ trong zeolit. Zeolit tác dụng hấp thu TAN(NH3, NH4) tốt nhất trong môi trường nước ngọt, 1g zeolit có khả năng làm giảm 0,12mgTAN. Tác dụng của zeolit càng giảm khi độ mặn càng tăng và hàm lượng vật chất hữu cơ lắng tụ ở nền đáy càng nhiều.

– Sử dụng formalin giảm NH3: Ở vùng Đông Nam Á đôi khi người ta sử dụng formalin để loại bỏ ammonia trong các hồ nuôi tôm. Sử dụng formalin với liều lượng 5-10mg/l tạo ra chất hexamethylenetetramin và foramid có khả năng loại bỏ được 50% ammonia trong ao nuôi. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng phương pháp này trong thực tiễn thì cần phải tiếp tục có những nghiên cứu tỉ mỉ hơn vì formalin độc đối với thủy động vật, giết chết tảo làm cạn kiệt oxy trong nước và để lại dư lượng trong sản phẩm.

– Chiết xuất từ cây Kim Giao (Yuacca schidigera) có chứa hợp chất glyco, chất này có thể kết hợp với ammonia. Trong điều kiện phòng thí nghiệm người ta xác định được là cứ 1g dịch kim giao thương phẩm sẽ làm giảm 0,1 – 0,2g ammonia. Khảo sát trong thực tế cho thấy: sử dụng liều lượng 0,3mg/l, chu kỳ 15 ngày thấy hàm lượng ammonia trong ao nuôi tôm thấp hơn so với đối chứng và khả năng sống của tôm cao hơn.

* Điều chỉnh ammonia bằng biện pháp quản lý ao nuôi

Các giải pháp quản lý ao nuôi có tác dụng rất tốt và đỡ tốn kém hơn, đồng thời giảm được chất lắng tụ và khí độc phát sinh trong ao.

Những giải pháp quản lý sau đây có thể áp dụng để giảm thiểu nồng độ ammonia trong ao nuôi: Duy trì mật độ tảo ổn định trong ao, điều chỉnh màu nước sao cho mật độ tảo không thưa và không dày quá; Sử dụng thức ăn có chất lượng cao liều lượng vừa đủ; Loại trừ váng tảo lam nổi trên mặt nước; Cải tạo kỹ ao nuôi, phơi đáy, cày bừa, rải vôi để ammonia bay hơi vào khí quyển, hạn chế sự tồn lưu trong đất; Tháo nước ở gần đáy theo định kỳ hoặc liên tục, cấp nước có chất lượng tốt; Quan trắc, đánh giá lượng ammonia trong ao để sớm có giải pháp khắc phục; Thiết kế ao nuôi và vị trí đặt máy sục khí sao cho các chất thải gom tụ lại ở giữa ao làm giảm diện tích bề mặt chất thải tiếp xúc với nước ao, tập trung được các thành phần hữu cơ, hạn chế tối đa sự phân hủy của vi khuẩn yếm khí và kết quả là giảm lượng NH3 sinh ra trên bề mặt chất thải.

Bên cạnh đó, cần lắp đặt cánh quạt trong ao nuôi để trộn đều nước trong ao nuôi tránh hiện tượng phân tầng nước, giúp quản lý tảo trong ao; Cung cấp oxy cho ao nuôi, giải phóng khí độc dưới đáy ao; Tạo dòng chảy trong ao, gom chất thải vào giữa ao tạo vùng sạch cho tôm; Tăng cường hoạt động của tôm giúp tôm tiêu hoá và hấp thụ thức ăn được tốt hơn góp phần làm tăng hệ số chuyển đổi thức ăn.

Tất cả các phương pháp trên nếu có điều kiện nên thay nước trước khi xử lý vì đây cũng là giải pháp có hiệu quả trong quan lý ao nuôi thủy sản.

Ammonia sinh ra do sự bài tiết của các động vật thủy sản và sự phân hủy chất đạm có trong vật chất hữu cơ (thức ăn, xác phiêu sinh vật, phân bón..). Ammonia phát sinh có liên quan đến các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH…, đặc biệt là các vật chất hữu cơ do thức ăn. Chính vì vậy, quản lý thức ăn trong ao nuôi, điều chỉnh hệ số thức ăn ở mức vừa đủ, hệ số thức ăn đối với ao nuôi thâm canh từ 1,2-1,5, hạn chế TAN trong ao nuôi, giảm được hàm lượng NH3 trong ao nuôi và các yếu tố môi trường nước ở mức cho phép (pH=7,2-7,8 và nhiệt độ từ 27-30oC) sẽ hạn chế được tính độc của ammonia. Đồng thời chất lượng nguồn nước cấp cũng là yếu tố quyết định đối với năng suất ao nuôi./.

Thanh Thúy – TTKNKN Sóc Trăng
Nguồn: Khuyennongvn.gov.vn

  • Chia sẻ qua Zalo
  • Chia sẻ FB
  • Bình luận
  • Chia sẻ Zalo
  • Facebook
  • Đánh giá:
  • 0/50 ratings

acb