7 điểm yếu của Việt Nam trong năng lực cạnh tranh - Công ty Hóa chất Bách Khoa | CÔNG TY TNHH MTV THƯƠNG MẠI SẢN XUẤT BÁCH KHOA
7 điểm yếu của Việt Nam trong năng lực cạnh tranh

Đăng ngày 01/12/2010

Đây là nhận định được Giáo sư Michael Porter – “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh đưa ra tại Hội thảo công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam sáng 30/11.

Báo cáo được xây dựng bởi Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á. Giáo sư Michael Porter chính là người chỉ đạo trực tiếp việc thực hiện báo cáo này.

IMGa9153  - IMGa9153 thumb 25255B4 25255D - 7 điểm yếu của Việt Nam trong năng lực cạnh tranh

Giáo sư Michael Porter – “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh thuyết trình tại Hội thảo công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam

Mô hình thiếu sự tăng trưởng bền vững

Mô hình phát triển hiện nay của Việt Nam được thúc đẩy bởi hội nhập kinh tế quốc tế. Hay nói cách khác, chuyển dịch cơ cấu của Việt Nam (từ hoạt động nông nghiệp sang hoạt động chế tác có sự tái phân bổ) được kích hoạt bởi việc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, là động lực chính dẫn dắt tăng trưởng. Các nhà đầu tư nước ngoài đã kết hợp vốn của mình với lao động Việt Nam và đầu vào nhập khẩu để sản xuất phục vụ thị trường toàn cầu, đồng thời phần phục vụ nhu cầu trong nước cũng ngày càng tăng. Tác động của việc mở cửa cũng thể hiện ở việc tăng trưởng của khu vực FDI là rất lớn.

Mặc dù xuất khẩu của khu vực chế tác tăng nhưng giá trị gia tăng và năng suất trong khu vực xuất khẩu của Việt Nam còn thấp. Việt Nam có thị phần xuất khẩu lớn chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên, liên kết trực tiếp giữa các ngành xuất khẩu này hầu như không có.

“Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư chủ yếu do yếu tố chi phí nhân công thấp, vì thế chưa cải thiện được mức sống của người dân. Trong một môi trường toàn cầu đang thay đổi, điều này là không đủ để duy trì tăng trưởng bền vững” – GS Michael Porter nhấn mạnh.

Theo ông, mô hình phát triển hiện nay của Việt Nam đang nổi lên những điểm yếu. Thứ nhất, giá trị gia tăng thấp của khu vực xuất khẩu cùng với nhu cầu nội địa tăng làm gia tăng thâm hụt thương mại. Thứ hai, sự lên giá thực của VND góp phần thêm vào mất cân bằng cán cân thương mại. Thứ ba, các dòng vốn lớn đổ vào làm kích thích tăng cầu nội địa và lạm phát. Thứ tư, chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng càng gây thêm áp lực lạm phát. Thứ năm, tỷ lệ tăng trưởng GDP so với đầu tư ngày càng giảm làm tăng sự phụ thuộc vào các dòng vốn bên ngoài để duy trì tăng trưởng. Thứ sáu, tăng trưởng nhu cầu đang vượt quá năng lực vi mô của nền kinh tế về mặt kỹ năng lao động và hạ tầng kỹ thuật. Thứ bảy, khoảng cách giữa vốn FDI công bố và vốn thực hiện ngày càng tăng.

IMGa9152  - IMGa9152 thumb 25255B2 25255D - 7 điểm yếu của Việt Nam trong năng lực cạnh tranh

"Doanh nghiệp tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng để dẫn dắt và thúc đẩy sự cải thiện năng lực cạnh tranh" – GS Michael Porter nhấn mạnh

Cũng theo ông, năng lực cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam hiện nay đều dựa trên những lợi thế tự nhiên được thừa hưởng, đặc biệt là vị trí địa lý và đặc điểm dân số. Chính phủ đã giúp các lợi thế tự nhiên này được bộc lộ và phát huy thông qua việc mở cửa thị trường và đầu tư vào cơ sở hạ tầng cơ bản. Tuy nhiên, Việt Nam chưa tạo dựng được các lợi thế mới, đặc trưng. Các nỗ lực của Chính phủ nhằm đáp ứng những nhu cầu về hạ tầng và thể chế của một nền kinh tế đang tăng trưởng bị kìm lại bởi những hạn chế của một phương thức điều hành truyền thống, thiên về kiểm soát. “Mặc dù mô hình phát triển này đã đem lại thành công trong quá khứ, nhưng những dấu hiệu về sự thiếu bền vững của nó ngày càng rõ. Việt Nam cần có một chiến lược kinh tế nhằm xây dựng một mô hình phát triển mới” – ông nhấn mạnh.

Đứng trước những thực tế nêu trên, GS Michael Porter và nhóm thực hiện báo cáo đề xuất một loạt giải pháp đối với Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nhằm tìm ra mô hình phát triển tương xứng trong giai đoạn hiện nay. Theo Giáo sư Michael Porter, Việt Nam cần hướng tới một chiến lược mới với 3 nguyên tắc chỉ đạo: một là, đặt năng lực cạnh tranh ở vị trí trung tâm (từ việc tập trung vào các lực đẩy vĩ mô để chuyển dịch cơ cấu sáng nâng cấp các nền tảng kinh tế vĩ mô và vi mô để tăng năng suất); chuyển đổi cấu trúc vai trò của khu vực tư nhân trong nước có nghĩa là từ chỗ tập trung vào khu vực doanh nghiệp nhà nước sang FDI sang sự kết hợp do thị trường điều chỉnh giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước, FDI và các doanh nghiệp nhà nước được cải cách; vai trò mới của Chính phủ trong nền kinh tế từ kiểm soát một nền kinh tế đang chuyển đổi sang xây dựng lợi thế cạnh tranh cho một nền kinh tế thị trường.

"Doanh nghiệp tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng để dẫn dắt và thúc đẩy sự cải thiện năng lực cạnh tranh" – GS Michael Porter nhấn mạnh.

"Xây dựng cụm ngành là xây dựng năng suất"

Một giải pháp được giáo sư nhấn mạnh là phát triển các cụm ngành sản xuất. Ông đề xuất Việt Nam nên chia thành các cụm khu vực, đánh vào lợi thế từng khu vực để xây dựng các cụm ngành. Ví dụ như cụm ngành điện tử và cơ khí ở Hà Nội và các tỉnh lân cận dựa trên năng lực các nhà cung cấp nội địa; cụm ngành logistics ở khu vực TP HCM dựa trên lợi thế là cơ sở hạ tầng; cụm ngành du lịch ở khu vực miền Trung dựa vào chiến lược phát triển và các dịch vụ có liên quan…Theo GS, Việt Nam cần tổ chức lại các chính sách hiện nay để lấy cụm ngành làm trung tâm, đặc biệt trong lĩnh vực liên quan tới thu hút đầu tư, phát triển kỹ năng lao động, khu công nghiệp, và phát triển khu vực tư nhân trong nước; Tiến hành dự án lập bản đồ các cụm ngành nhằm định vị và đánh giá các cụm ngành trên toàn quốc; Khuyến khích việc thực hiện các dự án cụm ngành thí điểm thông qua việc thành lập một Quỹ sáng kiến cụm ngành Việt Nam.

Ông nói “xây dựng cụm ngành là xây dựng năng suất”. Vì thế, vai trò của Chính phủ trong các sáng kiến cụm ngành được ông nêu rõ: Chính phủ nên hỗ trợ tất cả các cụm ngành đã tồn tại và mới nổi, hỗ trợ thu thập và công bố số liệu ở cấp cụm ngành, sẵn sàng thực hiện các kiến nghị. Chính sách cụm ngành phải tận dụng tất cả những tài sản sẵn có, yếu tố lịch sử và vị trí địa lý, thúc đẩy cạnh tranh để nâng cao năng suất và hiệu quả. Chính phủ không nên chỉ lựa chọn những cụm ngành mình thích, lựa chọn các công ty mình thích, bao cấp hoặc bóp méo cạnh tranh, định đoạt các ưu tiên phát triển của cụm ngành.

Đề xuất lập Hội đồng năng lực cạnh tranh Quốc gia

a2dIMGa9162  - a2dIMGa9162 thumb 25255B2 25255D - 7 điểm yếu của Việt Nam trong năng lực cạnh tranh

Thảo luận bàn tròn về chương trình hành động nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam

Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, GS Michael Porter và nhóm nghiên cứu đưa ra đề xuất thành lập Hội đồng năng lực cạnh tranh Quốc gia. Theo ông, đối với mỗi sáng kiến cải cách cụ thể cần có một cơ quan hay nhóm công tác chịu trách nhiệm chính về triển khai thực hiện sáng kiến đó.

Hội đồng năng lực cạnh tranh Quốc gia sẽ làm nhiệm vụ điều phối các nhóm công tác, cơ quan; giám sát các hoạt động; và báo cáo với cộng đồng, Chính phủ. Nhưng để thực hiện được các nhiệm vụ trên, GS Michael Porter cho rằng phải hội đủ được ba yếu tố quan trọng gồm: vai trò lãnh đạo của Chính phủ – "những lãnh đạo cao nhất của Chính phủ phải thấy được sự hữu ích của Hội đồng này và tham gia cũng như lắng nghe một cách sâu sắc, không hình thức"; Hội đồng phải tập hợp được những cá nhân xuất sắc, quan tâm đến lợi ích chung của đất nước chứ không phải chỉ lo cho lợi ích của chính họ hay nhóm của họ và phải có một ban thư ký có trách nhiệm.

Phát biểu trong lễ công bố Báo cáo Năng lực cạnh tranh 2010 sáng 30/11, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đánh giá cao chất lượng những thông tin mà Giáo sư Michael Porter và các đồng sự tại CIEM và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á mang lại. Phó thủ tướng khẳng định đây là nguồn dữ liệu quan trọng và sẽ được Chính phủ cân nhắc, sử dụng khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Với đề xuất thành lập Ủy ban giám sát năng lực cạnh tranh Quốc gia, Phó thủ tướng cho biết sẽ đề đạt ý tưởng này để Chính phủ có cơ sở xem xét, triển khai trong thời gian tới.

Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010: “Chất xúc tác tạo sự chuyển đổi”

Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 được xem là bản báo cáo cấp quốc gia đầu tiên của Việt Nam về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Báo cáo được xây dựng bởi Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á. Giáo sư Michael Porter – “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh chính là người chỉ đạo trực tiếp việc thực hiện báo cáo này.

Báo cáo gồm 4 chương lớn: Chương I giới thiệu tổng quan về phương pháp luận. Chương 2 xem xét các kết quả kinh tế của Việt Nam dưới góc độ là các chỉ tiêu biểu hiện năng lực cạnh tranh. Chương 3 đánh giá các yếu tố nền tảng của năng lực cạnh tranh đã làm nên những kết quả kinh tế của Việt Nam ngày nay. Chương 4 dựa trên các kết quả đánh giá trên để nhận diện ba nhóm nhiệm vụ quan trọng nhất Việt Nam cần thực hiện và các đề xuất cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo DĐDN

– Xem thêm: news.bachkhoa.net.vn
0/5 (0 Reviews)
  • Chia sẻ Zalo
  • Facebook
  • Đánh giá:
    0/50 ratings